Để đánh giá khả năng tạo callus và tái sinh của tập đoàn lúa nương nhằm hoàn thiện các quy trình nuôi cấy in vitrotrên các giống lúa có khả năng tái sinh cao phục vụ công tác chuyển gen, 31 giống lúa nương đã được sử dụng cho nghiên cứu này. Kết quả đã xác định được một số giống có khả năng tạo callus cao nhất trên môi trường thích hợp. Trong 31 giống lúa, có 4 giống có tiềm năng tạo callus tốt nhất là Kháu kè đè trặm (78,7%), Kháu công ton (85%), Kháu trặm họm (tẻ thơm) (76,3%) và Kháu noọn (80%). Môi trường thích hợp cho sự hình thành callus của các giống Kháu kè đè trặm và Kháu công ton là môi trường có bổ sung 1,5mg/l 2,4D. Trong lúc đó, đối với 2 giống còn lại là môi trường có bổ sung 2mg/l 2,4-D. Xác định được khả năng tái sinh của tập đoàn lúa nương trên các môi trường khác nhau trong số 25 giống lúa có khả năng tạo callus tốt nhất trên môi trường MS có bổ sung 2mg/lBAP, 0,5mg/lkinetine và 0,1mg/lcasein thích hợp nhất ở các giống IR78878-5-1-3-3 (70,3%), Kháu công ton (70,3%), Kháu tói (70,3%), Kháu trặm họm (75,3%). Đồng thời đã xác định được khả năng tạo callus và tái sinh cây của các giống lúa bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường và di truyền, hai yếu tố này có sự tương tác làm ảnh hưởng các khả năng trên ở các giống lúa khác nhau và bước đầu đã chuyển thành công gen OsDREB2ACA vào giống Kháu trặm họm.