Các thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện thủy canh và đồng ruộng nhằm đánh giá ảnh hưởng của ba liều lượng đạm và hai dạng đạm bón khác nhau là urê và amon nitrat đến sinh trưởng của các giống lúa trong điều kiện mặn cao. Thí nghiệm thủy canh được tiến hành với hai giống lúa chịu mặn là Cườm và A69-1, sử dụng dung dịch dinh dưỡng Yoshida có bổ sung muối NaCl với nồng độ 113 mM, xử lý đạm ở ba nồng độ là 1,4 mM N, 2,1 mM N, và 2,8 mM N. Cây lúa được đánh giá khả năng sinh trưởng ở thời điểm 4 tuần sau xử lý mặn. Ở thí nghiệm đồng ruộng, ba giống lúa địa phương gồm Cườm, Ngoi, Hom râu, và ba giống lúa cải tiến gồm A69-1, FL478 và IR28 được sử dụng để đánh giá sinh trưởng và năng suất dưới ảnh hưởng của ba liều lượng đạm bón là 45 kg N, 68 kg N, 90 kg N/ha ở điều kiện đất nhiễm mặn cao. Kết quả thí nghiệm thu được ở điều kiện thủy canh cho thấy các dạng đạm và liều lượng đạm bón ảnh hưởng theo chiều hướng khác khau đến sinh trưởng của cây lúa. Cụ thể, khi tăng lượng đạm bón, khối lượng chất khô tích lũy, số lượng rễ, tổng chiều dài rễ và giá trị SPAD tăng ở dạng đạm amon nitrat nhưng lại giảm ở dạng đạm urê cùng với chỉ tiêu chỉ số độ dày lá và hiệu suất sử dụng đạm ở cả hai giống lúa chịu mặn. Ở thí nghiệm đồng ruộng, việc thay đổi liều lượng và dạng đạm bón không ảnh hưởng đến năng suất thực thu. Tuy nhiên, dạng đạm bón có ảnh hưởng đến khối lượng 1.000 hạt và số bông/khóm, còn liều lượng đạm làm tăng khối lượng chất khô tích lũy ở giai đoạn chín sáp khi tăng lượng đạm bón. Các giống lúa địa phương có số bông/khóm và tỉ lệ hạt chắc thấp nhất ở liều lượng đạm bón 45 kg N/ha, không có sự khác biệt ở hai liều lượng bón 68 kg N/ha và 90 kgN/ha. Trong khi đó, các giống cải tiến chịu mặn không bị ảnh hưởng bởi việc thay đổi liều lượng đạm bón, giống nhiễm mặn IR28 lại giảm về năng suất thực thu, số hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc và khối lượng 1.000 hạt khi giảm lượng đạm bón từ 90 kg N/ha xuống 45 kg N/ha.