Vi khuẩn lactic đóng vai trò quan trọng trong sản xuất thực phẩm lên men. Mục đích của nghiên cứu là phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn lactic từ sản phẩm lên men để ứng dụng trong sản xuất đồ uống probiotic từ gừng. Kết quả phân lập trên môi trường MRS được 46 chủng vi khuẩn với kích thước 1-1,5mm, khuẩn lạc tròn, bóng, màu trắng đục hoặc trắng sữa, mô nổi. Sáu chủng được sơ tuyển dựa trên đặc điểm Gram dương, catalase âm và đặc điểm hình thái tế bào hình que hoặc hình cầu. Định danh bằng phương pháp khối phổ MALDI-TOF xác định được các chủng trên thuộc 4 loài Enterococcus faecium, Enterococcus casseliflavus, Lactobacillus fermentum và Lactobacillus plantarum. Thử nghiệm hoạt tính probiotic, tuyển chọn được chủng L. plantarumSM1.3 có khả chịu được pH 1,0-3,0, chịu muối mật 0,3% tốt, có khả năng sinh enzyme amylase, protease, cellulase và kháng hai chủng vi sinh vật kiểm định E. colivà Salmonella sp. Kết quả giải trình tự gen cho thấy chủng SM1.2 thuộc loài Limosilactobacillus fermentumvà chủng SM1.3 thuộc loài Lactiplantibacillus plantarum.Bước đầu sử dụng chủng vi khuẩn L. plantarum SM 1.3 cho sản xuất đồ uống probiotic từ gừng thu được sản phẩm có chất lượng cảm quan xếp loại tốt, mật độ vi khuẩn L. plantarum SM1.3 đạt yêu cầu đối với sản phẩm lên men sau 5 ngày bảo quản ở điều kiện 4C.
Thí nghiệm nuôi vỗ, kích thích sinh sản và ấp trứng cá Măng (Elopichthys bambusaRichardson, 1844) bằng các loại thức ăn, liều lượng kích dục tố, dụng cụ ấp khác nhau được thực hiện từ tháng 12/2019 - 8/2020 tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được loại thức ăn phù hợp trong nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ; liều lượng kích dục tố và dụng cụ ấp trứng tối ưu sử dụng trong sản xuất giống cá Măng. Kết quả chỉ ra rằng việc sử dụng thức ăn là cá Mè cắt nhỏ để nuôi vỗ cá Măng bố mẹ trong ao cho tỉ lệ cá bố mẹ thành thục cao hơn so với việc sử dụng thức ăn pha chế gồm 50% cá Mè + 50% thức ăn viên hỗn hợp và sử dụng 100% thức ăn viên hỗn hợp 40% độ đạm. Sử dụng liều tiêm kích dục tố 60µg LRH-A + 10mg DOM/kg cá cái cho tỉ lệ rụng trứng cao nhất với thời gian hiệu ứng của kích dục tố từ 5-6 giờ ở nhiệt độ 27-31°C. Sử dụng bình weis để ấp trứng cá Măng cho tỉ lệ nở (84,4%) và tỉ lệ sống sau 13 ngày (56,7%) là cao hơn so với trứng ấp bằng khay ấp (tỉ lệ nở 68,7%, tỉ lệ sống 45,7%).
Nghiên cứu này ứng dụng mô hình CLUMondo để mô phỏngbiến động sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2030 tại vùng ven biển tỉnh Nam Định. Nguyên lý mô phỏngdựa vào mối tương quan giữa xác suất thay đổi sử dụng đất và các yếu tố phù hợp về vị trí trong sử dụng đất đai. Kiểm chứng kết quả mô hình được thực hiện bằng thống kê ROC và hệ số Kappa. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2030 theo kịch bản 1 (baseline) có diện tích lúa giảm xuống và diện tích nuôi trồng thủy sản tăng lên. Xu thế xảy ra cũng tương tự ở kịch bản 2 (theo quy hoạch) nhưng diện tích lúa giảm nhiều hơn. Ngoài ra, ở cả hai kịch bản đều xảy ra tình trạng tăng diện tích trồng màu và cây lâu năm. Với giả thiết theo kịch bản 2, khu nuôi trồng thủy sản nước ngọt có xu thế tiếp tục mở rộng vào vùng đất trồng lúa, trong khi đó một phần diện tích thủy sản nước lợ xen kẽ các bãi bồi ven biển phải chuyển sang đất lâm nghiệp. Vì vậy, khithực hiện quy hoạch cũng cần chuẩn bị sẵn các giải pháp cân đối không gian duy trì diện tích sản xuất lương thực và nuôi trồng thủy sản để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững cho địa phương.
Ngo Thi Thuong, Tran Thi Thuy Dung, Chu Thi Thanh, Nguyen Thi Hong Hanh, Le Thi Thu Huong
Ngày nhận bài: 02-03-2020 / Ngày duyệt đăng: 04-03-2021
Táo mèo (Docynia indica) là loại quả có tiềm năng dược lý cao do chứa nhiều hoạt chất chống oxy hóa như phenolic, flavonoid. Nghiên cứu này nhằm mục đích tối ưu hóa điều kiện chiết xuất hoạt chất sinh học từ táo mèo thông qua hỗ trợ của vi sóng. Tác động của các thông số khác nhau bao gồm: nồng độ dung môi, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu, công suất vi sóng, thời gian chiết xuất đến việc thu nhận các hoạt chất được nghiên cứu riêng lẻ. Điều kiện chiết xuất được tối ưu hóa bằng phương pháp bề mặt đáp ứng (Response Surface Methodology-RSM). Kết quả cho thấy, điều kiện tối ưu để chiết xuất hoạt chất sinh học từ quả táo mèo đông khô là dung môi rượu 40, tỷ lệ dung môi/nguyên liệu là 33,37/1, công suất vi sóng 627,64W (tuy nhiên trên thực tế không điều chỉnh được công suất này nên nhóm tác giả sử dụng công suất sát nhất là 630W), thời gian vi sóng là 3,02 phút, ở điều kiện nêu trên, hàm lượng polyphenol tổng số và flavonoid thu được lần lượt là 42,28 ±0,39mg GAE /g CK và15,47 ±0,38mg CAE/g CK.
Thử nghiệm nuôi nghêu thương phẩm trong các ao đất được thực hiện tại tỉnh Bến Tre và Nam Định nhằm đánh giá tăng trưởng, tỷ lệ sống, hiệu quả kinh tế và an toàn thực phẩm của nghêu nuôi ở quy mô sản xuất. Thử nghiệm được tiến hành ở 2 ao đất (tổng diện tích 1,8 ha) tại Bến Tre và 4 ao đất (tổng diện tích 2,2 ha) tại Nam Định. Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng của nghêu bị ảnh hưởng theo mùa và dao động trong khoảng 1,27-1,39 g/tháng. Tỷ lệ sống của nghêu dao động trong khoảng 70,65-90,00% và có sự khác biệt giữa hai vùng nghiên cứu. Nghêu nuôi ở Bến Tre có tỷ lệ sống cao hơn so với nghêu ở Nam Định. Kích cỡ nghêu thu hoạch từ 48 đến 55 con/kg và nghêu nuôi đạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm.Năng suất nghêu nuôi ở hai vùng dao động trong khoảng từ 22,08 đến 24,55 tấn/ha/vụ và lợi nhuận từ 19,86 triệu đồng/ha/vụđến 26,86 triệu đồng/ha/vụ. Tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/chi phí) ở Bến tre (0,28) cao hơn ở Nam Định (0,22).Kết quả của nghiên cứu đã khẳng địnhứng dụng của mô hình nuôi nghêu thương phẩm trong ao đất ở vùng ven biển nước ta.
Nhằm xác định tình trạng nhiễm sán lá song chủ (metacercariae) trên cá tra giống và cá tra nuôi thịt tại tỉnh Tiền Giang,nghiên cứu này đã thu và phân tích mẫu cá vào mùa mưa và khô (4/2017-4/2018), với tổng số cá thu là 272 cá tra thịt (48 ao) và 3.320 cá tra giống (64 ao). Phân tích mẫu cá bằng phương pháp tiêu cơ và định dạng sán bằng hình thái học. Kết quả ghi nhận cá tra hương giốngvà cá tra thịt nhiễm sán lá ruột nhỏ (Haplorchis pumilio) với tần suất,tỷ lệ nhiễm tập trung cao vào mùa mưa (ao cá giống từ 12,5-37,5%;cá thịt từ 12,1-30,0%) và thấp vào mùa khô (ao cá giống từ 0,0-13,3%;cá thịt từ 0,0-25,0%). Phơi đáy ao <2 ngày, cho cá ăn thức ăn tự chế chưa được nấu chín, ốc hiện diện trong ao và có chó mèo xung quanh khu vực ao nuôi là các yếu tố nguy cơ đến việc nhiễm H. pumilio(p<0,05). Biện pháp kỹ thuật là cần thiết giúp hạn chế,ngăn chặn việc nhiễm H. pumiliotrên cá tra giống và cá tra nuôi thịt nhằm góp phần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và sức khoẻ cho con người.
Nghiên cứuthực hiện với mục đíchxác định ảnh hưởng của nhiệt độ ngâm đến khả năng nảy mầm và ảnh hưởng của điều kiện chiếu sángvà cũng nhưthời gian đến hàm lượng polyphenol và khả năng kháng oxy hóa của hai loạiđậutương, đậu xanh. Hạt được ngâm ở năm nhiệt độ (25, 30, 35, 40 và 45C)để xác định nhiệt độ thích hợp nhất và hạt nảy mầm được tiến hành ở điều kiện chiếu sáng và bóng tối. Hàm lượng polyphenolvàhoạt tính kháng oxy hóa được đo bằng phương pháp Folin-Ciocalteu và DPPH.Kết quả cho thấy30Clà nhiệt độ ngâm thích hợp nhất vìcho tỉ lệ nảy mầm, chiều dài mầm và khối lượng mầm cao nhất. Hàm lượng polyphenol của hai loạiđậu tăng theothời giannảy mầm, trong đó ở đậu xanh tăng mạnh hơn. Ở điều kiện không chiếu sáng, hàm lượng polyphenol đậu xanh tăng từ 0,5mg GAE/g CK ở hạt nguyên liệu lên 4,9 mg GAE/g CK ở ngày 5, trong khi hàm lượng polyphenol đậu tương tăng từ1,0 mg GAE/g CK ở hạt nguyên liệu lên 3,4 mg GAE/g CK ở ngày 5. Hoạt tính kháng oxy hóa cũng tăng lên từ0,12µmol TE/g CK và 1,3µmol TE/g CKở hạt nguyên liệu đậu xanh và đậu tương lên4,8 và 3,2 µmol TE/g CKở ngày 5 trong điều kiện bóng tối. Như vậy hạt đậu nảy mầm làm tăng hàm lượng polyphenol và hoạt tính kháng oxy hóa.
Chủng vikhuẩn BacillusM5 có khả năng sinh tổng hợp cellulase đã được nuôi cấy để thu dịch enzyme vớimục đích tinh sạch và khảo sát một số đặc tính của cellulase thu nhận từ chủng này.Dịch enzyme thô được thunhận bằng cách ly tâm và kết tủa bằng dung môi hữu cơ sau đó hòa tan để thu chế phẩm kỹ thuật.Để khảo sát một số đặc tính enzyme về nhiệt độ, pH tối ưu cũng như độ bền nhiệt, bền pH và ảnh hưởng của một số ion kimloại,enzymekỹ thuậtđược xử lý trong các điều kiện khác nhau. Kết quả cho thấy cellulasethu nhậntừ chủng BacillusM5 hoạt động ở nhiệt độ tối ưu 65C;pH tối ưu 5,5; bền nhiệt ở khoảng 50C hoạt độ còn lại 53%sau 120 phút; bền pH trong khoảng từ 6,0đến 6,5;các ion kim loại Ca2+và Mg2+làm tăng hoạt độ enzyme còn ion Zn2+làm hoạt độ enzyme giảm. Enzyme thuđược có khốilượng phân tử là 45kDa.
Nghiên cứu này thực hiện với mục đích xác định ảnh hưởng của độ chín đến hàm lượng một số hợp chất có hoạt tính sinh học trên giống cà chua Thúy Hồng và xác định thời điểm thu hái cũng như chế biến phù hợp. Cà chua được thu hái ở 5 độ chín (ĐC) để phân tích các hợp chất có hoạt tính sinh học, trong đó hàm lượng phenolic và hoạt tính kháng oxy hóa được đo bằng phương pháp Folin-Ciocalteu và DPPH. Trong quá trình chín, hàm lượng vitamin C tăng mạnh từ 2,25 lên 27,17 mg/100 g chất tươi (CT) từ ĐC1 (màu xanh) đến ĐC5 (màu đỏ, mềm). Sự tích lũy hợp chất phenolic tăng lên mạnh từ ĐC1 đến ĐC3 (màu vàng cam nhạt), sau đó hầu như không đổi đến ĐC5. Carotenoid cũng tích lũy mạnh trong suốt quá trình chín; ở ĐC1 hàm lượng carotenoid là 598,81 µg/100 g CT và tăng lên 12,6 lần ở ĐC5. Hoạt tính kháng oxy hóa cũng tăng mạnh từ độ chín 1 đến độ chín 3, sau đó giữ ổn định đến ĐC5. Sự sự tăng này có thể là do sự tích lũy của phenolic và carotenoid. ĐC5 là giai đoạn mang lại giá trị dinh dưỡng cao khi sử dụng.
Lá tía tô (Perilla frutescens) và tinh dầu của nó được sử dụng để chữa bệnh trong y học cổ truyền bởi lợi ích sức khỏe của chúng. Nghiên cứu được thực hiện trên lá tía tô với hàm lượng tinh dầu 0,76% theo chất khô nhằm mục đích xác định chế độ xử lý nguyên liệu và các điều kiện công nghệ chưng cất tinh dầu thích hợp. Thời gian lưu trữ lá tía tô thích hợp nhất cho chưng cất tinh dầu trong vòng 48 h kể từ lúc thu hái và độ mịn của nguyên liệu là 2,0 < d 4,0 mm. Các điều kiện công nghệ thích hợp cho quá trình chưng cất như sau: áp suất hơi 2 atm; tỷ lệ khối lượng nguyên liệu/ thể tích thiết bị 0,40 kg/l; tốc độ chưng cất 30%; nhiệt độ nước ngưng 40°C; thời gian chưng cất 180 phút. Hiệu suất thu nhận tinh dầu đạt 95,35%. Sản phẩm tinh dầu thu được có hương tía tô đặc trưng với các thành phần chính như: perilla aldehyde (38,99%), perilla alcohol (23,71%), -zingiberene (6,22%) and β-caryophylene (5,63%), có thể được sử dụng như chất tạo hương thơm cho các sản phẩm thực phẩm và dược phẩm.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm về sản xuất lương thực, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản. Trên cơ sở quỹ đất lúa hiện có, nhờ tập trung chỉ đạo sản xuất, phát huy tốt các tiềm năng, lợi thế của vùng, sản xuất lúa đã đạt được mức tăng trưởng khá cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng đất lúa của vùng còn những tồn tại, hạn chế và có những mặt còn thiếu bền vững. Hơn nữa, sản xuất lúa của vùng đã, đang và sẽ phải chịu các tác động bất lợi của Biến đổi khí hậu - Nước biển dâng. Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất lúa và hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất lúa để làm rõ hơn thực trạng sử dụng đất lúa, thấy được những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất lúa của vùng, từ đó lấy cơ sở đề xuất những cơ cấu sử dụng đất lúa hợp lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy giai đoạn 2005 - 2014, diện tích đất lúa của vùng có sự biến động, tăng 4,4 nghìn ha; trong đó giai đoạn 2005 - 2010, tăng 18,4 nghìn ha, giai đoạn 2010 - 2014 giảm 14 nghìn ha. Năm 2014, diện tích gieo trồng lúa của vùng chiếm 53,93% diện tích gieo trồng lúa cả nước, sản lượng lúa chiếm 56,13% sản lượng lúa cả nước. Vụ Hè Thu có diện tích gieo trồng lúa lớn nhất, chiếm 54% tổng diện tích gieo trồng lúa của vùng; vụ Đông Xuân có năng suất lúa cao nhất (cao hơn 20,5% so với năng suất bình quân của vùng); vụ Mùa có diện tích gieo trồng lúa và năng suất đạt thấp nhất vùng. Sản xuất lúa đem lại hiệu quả từ trung bình đến khá cho người trồng lúa tùy thuộc loại đất.
Angiogenesis, the formation of new blood vessels, is an essential process for tissue and organ development, wound healing and pathological events. To understand the mechanism of angiogenesis, choosing a suitable model for research is important and sometimes difficult. This review introduces some of the current and popular in vitro models for angiogenesis research, especially for investigating the morphological differentiation process of endothelial cells, including two-dimensional and three-dimensional models. The fabrication methods, advantages, limitations of each model and some future perspectives are discussed.
Thí nghiệm được thực hiện tại 20 trang trại chăn nuôi lợn thịt và 20 trại chăn nuôi gà thịt tập trung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm đánh giá tình hình sử dụng kháng sinh trong các trại chăn nuôi và phân tích tồn dư kháng sinh Oxytetracycline, Chlortetracycline, Sulfadiazine, Sulfamethazine, Doxyciline và Tylosine trong các mẫu thức ăn thu thập ở các trại chăn nuôi. Kết quả cho thấy: việc sử dụng kháng sinh cho vật nuôi ở các trang trại chăn nuôi chưa được quản lý chặt và không hợp lý; việc lựa chọn loại kháng sinh, quyết định liều lượng kháng sinh trong phòng và trị bệnh, thời gian ngừng thuốc trước khi xuất chuồng và phối hợp kháng sinh chủ yếu dựa vào khuyến cáo của các công ty sản xuất thuốc và kinh nghiệm của người chăn nuôi. Có trên 17 loại kháng sinh được sử dụng trong các trang trại chăn nuôi, các loại kháng sinh được sử dụng phổ biến là Norfloxacine (60,0%), Tylosine (60,0%), Gentamycine (55,0%), Doxycycline (55,0%), Tiamuline (50,0%), Colistine (45,0%) và Enrofloxacine (40,0%). Đã có 50% mẫu thức ăn chăn nuôi lợn thịt, gà thịt phát hiện thấy ít nhất một trong số các loại kháng sinh Tylosine (20 - 30%), Sulfadiazine (30 - 40%), Chlortetracycline (20-30%), Doxycycline (0 - 30%) và Sulfamethazine (10 - 20%). Không có mẫu vượt giới hạn cho phép.
The total phenolic content and the colour index of clarified syrup were analyzed during 5 months of crushing season. There was positive correlation between total phenolic content and colour index of sugarcane syrup. The effect of storage time and pH on the colour index of clarified syrup was also was determined. The result showed that the colour development was significant during storage, especially, when the acidity of clarified syrup is high (low pH).
Protein and lipid recovery from yellowfin tuna heads by enzymatic hydrolysis was studied. Hydrolysis of tuna head was carried out using 0.5% Protamex at 45°C without pH control for 120 minutes with a water/material ratio of 1:1 (ml/g). Nitrogen recovery, amino acid composition of protein hydrolysate, lipid recovery and fatty acid composition of fish oil obtained from hydrolysis of tuna heads were determined. Results showed that after 120 minutes of hydrolysis, the nitrogen and lipid recoveries were 70.3% and 65.4% respectively. Protein hydrolysate from yellowfin tuna heads had of 80% protein, 1.3% lipid and 7.9% ash. Protein hydrolysate had high content of essential amino acids (33.67%). The fish oil obtained from hydrolysis of tuna heads was rich in omega-3 fatty acids (18.99%), especially docosahexaenoic acid (DHA) and eicosapentaenoic acid (EPA). The content of omega-6 fatty acids was 4.37%. Fatty acids with high contents in tuna head oil were palmitic acid (29.75%), oleic acid (16.76%) and docosahexaenoic acid (14.56%).
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ nhiễm và khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli kháng colistin phân lập từ gà bày bán tại một số chợ trên địa bàn xã Gia Lâm, Hà Nội. Tổng 50 mẫu swab trực tràng gà được thu thập ngẫu nhiên tại 10 chợ để tiến hành phân lập vi khuẩn E. coli kháng colistin bằng phương pháp nuôi cấy trên môi trường chọn lọc có bổ sung kháng sinh colistin (2 mg/l). Khả năng kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn E. coli kháng colistin được xác định bằng phương pháp khuếch tán trên thạch. Kỹ thuật multiplex-PCR được sử dụng để phát hiện các gen kháng colistin (mcr). Kết quả nghiên cứu ghi nhận 56% (28/50) mẫu swab dương tính với vi khuẩn E. coli kháng colistin. Các chủng phân lập có tỷ lệ kháng cao với kháng sinh ampicillin, tetracycline (96,43%), trimethoprim/sulfamethoxazole (85,71%) và streptomycin (85,71%). Nghiên cứu không ghi nhận chủng nào kháng cefepime, ceftazidime và meropenem. Kết quả PCR chỉ ra rằng tất cả các chủng vi khuẩn E. coli kháng colistin phân lập được đều mang gen mcr-1. Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kiểm soát sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gia cầm để hạn chế nguy cơ lan truyền sang thực phẩm.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao giá trị thương hiệu Gạo sạch Thạnh Đạt của Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Thạnh Đạt tại xã Vĩnh Thạnh, TP. Cần Thơ. Bộ dữ liệu được thu thập từ các báo cáo nội bộ của HTX, điều tra khảo sát đối với 144 người tiêu dùng và 28 đại lý phân phối, cùng nguồn tài liệu thứ cấp khác. Kết quả nghiên cứu chỉ ra được những điểm mạnh và hạn chế về các thành phần của giá trị thương hiệu, bao gồm: nhận biết thương hiệu, cảm nhận thương hiệu, ưa thích thương hiệu và lòng trung thành thương hiệu của người tiêu dùng. Các ý kiến đánh giá của đối tác trung gian về chức năng và cảm nhận đối với giá trị thương hiệu cũng được ghi nhận tích cực và tiêu cực. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở cho HTX và các doanh nghiệp nông nghiệp vùng ĐBSCL trong chiến lược phát triển thương hiệu gạo sạch.
Nghiên cứu này tập trung phát triển phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối với phổ khối hai lần để phân tích histamine trong sản phẩm tương truyền thống. Histamine được tách bằng sắc ký lỏng sử dụng cột tách z-HILIC và nhận biết bằng MS/MS sử dụng nguồn ion hóa phun điện ở chế độ phân cực dương khoảng tuyến được được thiết lập khoảng nồng độ từ 0,02 đến 7,05 mg/kg với hệ số hồi quy tuyến tính tốt. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) tương ứng là 3,0 µg/kg và 11 µg/kg. Độ lặp lại và độ tái lặp của phương pháp tốt với RSD tương ứng là 2,74% và 3,74%. Độ thu hồi được thực hiện qua mẫu thêm chuẩn và đạt được trong khoảng 86,26% đến 100,1%. Áp dụng phương pháp đã xác nhận sử dụng để phân tích histamine trong 37 mẫu tương truyền thống, kết quả cho thấy hàm lượng histamine nằm trong khoảng LOQ đến 70,5 µg/kg với giá trị trung bình là 17,7 µg/kg. Bên cạnh đó, kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng không có mối tương quan cao giữa histamine và hàm lượng nitơ tổng số.
Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tái sử dụng nước thải từ hệ thống nuôi tôm siêu thâm canh để nuôi vi tảo Chaetoceros mulleri và sử dụng sinh khối tảo làm thức ăn cho Artemia. Thí nghiệm 1, chúng tôi đánh giá sự sinh trưởng của C. mulleri trong nguồn nước thải có bổ sung các chế độ dinh dưỡng khác nhau. Kết quả cho thấy quần thể tảo C. mulleri phát triển tốt và đạt mật độ cực đại ở ngày nuôi thứ 3 khi trong môi trường nước thải. Mật độ tảo đạt cao nhất (26,1 x 105 tb/ml) ở nghiệm thức bổ sung dinh dưỡng (F/2), tiếp đến là (21,6 x 105 tb/ml) ở nghiệm thức bổ sung Silicate. Thí nghiệm 2 khảo sát hiệu quả của tảo được nuôi trong 2 điều kiện môi trường khác nhau (nuôi trong điều kiện tối ưu – TĐC và nuôi trong nước thải nuôi tôm siêu thâm canh có bổ sung Silicate (TNT+Si) làm thức ăn cho Artemia ở các mật độ khác nhau (100, 200, 300, 400, 500 con/L). Kết quả cho thấy, Artemia sinh trưởng tốt khi nuôi trong nước thải nuôi tôm siêu thâm canh. Việc bổ sung tảo C. mulleri được nuôi trong môi trường khác nhau không ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, chiều dài và sinh khối quần thể Artemia. Tỷ lệ sống và kích thước về chiều dài của Artemia đạt cao nhất khi nuôi ở mật độ 100 con/L nhưng sinh khối của quần thể lại đạt cao nhất (1,12±0,13 g/L) khi thả nuôi ở mật độ 500 con/L. Kết quả của nghiên cứu này góp phần thêm cơ sở cho việc chuyển hoá dinh dưỡng từ nước thải nuôi tôm thành sinh khối của Artemia qua xích thức ăn trung gian là vi tảo.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Khoa Kinh tế và Quản lý, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Số liệu được thu thập từ 350 sinh viên kết hợp với cơ sở dữ liệu đào tạo, xử lý bằng phần mềm STATA qua hai bước là phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy kết quả học tập của sinh viên chịu ảnh hưởng từ các yếu tố thuộc về đặc điểm của sinh viên, yếu tố liên quan đến gia đình và các hỗ trợ của Học viện trong học tập, nghiên cứu khoa học và khởi nghiệp. Từ đó, nghiên cứu khuyến nghị sinh viên cần cân bằng việc học và làm thêm, tích cực tham gia hoạt động ngoại khóa. Học viện cần tích cực triển khai các đề án hỗ trợ sinh viên và có các chính sách thu hút sinh viên đăng ký theo học các ngành đào tạo chất lượng cao.
Nghiên cứu này nhằm khảo sát quy trình sản xuất xúc xích tôm hun khói từ tôm thẻ chân trắng, một nguồn nguyên liệu dồi dào tại Việt Nam. Mục tiêu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, bao gồm tỷ lệ nguyên liệu, hàm lượng phụ gia, thời gian xay và hun khói. Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, sử dụng phương pháp đánh giá cảm quan và đo lực cắt ngang. Kết quả cho phép đề xuất quy trình sản xuất xúc xích tôm hun khói với công thức là tỷ lệ nguyên liệu chính thịt lợn/thịt tôm/mỡ là 25:60:15, bổ sung 5% tinh bột biến tính (TBBT), 2% bột lòng trắng trứng (BLTT) và 0,4% sodium tripolyphosphate (STPP). Thời gian quết 5 phút và hun khói bằng dăm gỗ chanh ở 90-100C trong 120 phút mang lại sản phẩm có lực cắt và điểm cảm quan tốt nhất. Thành phẩm đạt điểm cảm quan 18,4/20 với lực cắt ngang đạt 11,5 ± 0,2N, được đánh giá là tốt theo TCVN 3215-79. Nghiên cứu này góp phần nâng cao giá trị của tôm phục vụ sản xuất sản phẩm thực phẩm tiện lợi.
In this study, the mature gene encoding for the enzyme endochitinase from the Gram positive bacterium Bacillus licheniformis DSM13 (ATCC 14580) was cloned into the expression vector pET-21d, and then overexpressed in E. coli T7. A high expression level was indicated by SDS-PAGE and an enzyme activity assay using pNP-(GlcNAc)2 0.18 mM as the substrate. The activity of the enzyme expressed in E. coli T7 was approximately 8 times higher than that previously expressed in Lactobacillus plantarum. Recombinant chitinase was purified from cell extract and characterized using coloidal chitin 2% as the substrate. The enzyme showed good thermostability (half-lives of 15 days and 8 days at 37 and 50° C, respectively), and good stability in the pH range of 5 - 9. The main product of colloidal chitin hydrolysis as indicated by thin layer chromatography was diacetyl glucosamine. The results demonstrated that this enzyme was promising for chitin waste bioconversion into different chitin-oligosaccharides, such as functional diacetyl glucosamine.
The development of histomorphology structures of small intestine in pigs is affected by food consumptions. In the present study, twelve Muong indigenous pigs and nine Vietnamese wild boars were investigated to compare the morphology of small intestine. The tunica muscularis in duodenum of Muong indigenous pigs was significantly thicker than that in wild boars. In jejunum, the difference was observed in submucosa layer and the crypt depth. In the segment of ileum, the thickness of submucosa and inner mucosa layers of Muong indigenous pigs was significantly greater than that of the wild counterparts. Conversely, the villous height and the cript depth in the wild boars showed higher value. The ratio of villous height/crypt depth in duodenum and jejunum of Muong pigs was higher than that in wild boars but the contrary result was found in the ileum. The distribution of Goblet cells in duodenum of Muong indigenous pigs was 2.8 times more than that of Vietnamese wild boars. The results suggested that the difference in nutrient sources might be a factor to decipher the histomorphology structures of small intestine of pigs.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra trong nông nghiệp ở nhiều nước và khởi đầu ở Việt Nam. Bài viết này thảo luận bản chất và các hợp phần của Nông nghiệp 4.0 cũng như xu hướng đổi mới và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế và quản lý, quản lý tài nguyên thiên nhiên mà môi trường, trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, chế biến, bảo quản, khuyến nông và marketing trong nông nghiệp 4.0. Bài viết cũng chỉ ra được các lợi ích, các cơ hội và thách thức của Nông nghiệp 4.0 đồng thời đề xuất một số gợi ý chính sách cho phát triển bền vững Nông nghiệp 4.0 ở Việt Nam.