Nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng tái sinh in vitro của các giống đậu xanh ở các điều kiện nuôi cấy và loại mẫu cấy khác nhau. Nghiên cứu sử dụng 10 mẫu giống, các loại mẫu cấy, nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng và kanamycin. Khả năng cảm ứng mô sẹo tăng theo nồng độ BAP và được thúc đẩy mạnh khi kết hợp NAA. Công thức 3-4 BAP + 1,0 mg/l NAA cho tỷ lệ tạo callus cao nhất (73,2-75,3%), đặc biệt ở mẫu chồi và trụ hạ diệp (~ 50%), trong khi mẫu lá có tỷ lệ thấp nhất (28,7%) và dễ nhiễm hơn (26,5%). Ở giai đoạn tái sinh chồi từ lá mầm, môi trường MS + 0,5-2,0 mg/l BAP + 0,1 mg/l IAA cho hiệu quả cao nhất với tỷ lệ mẫu ra chồi đạt 80,0-82,2% và 0,8-1,7 chồi/mẫu. Giống HMB0024 biểu hiện khả năng tái sinh tốt (1,7 chồi/mẫu). Khả năng tạo rễ trên môi trường MS đạt 50,0-61,7% tùy giống; giống HMB0036 cho số rễ và chiều dài rễ cao nhất (10,1 rễ/mẫu; 9,0cm). Như vậy, môi trường tối ưu tạo callus từ chồi và thân là MS + 3-4 mg/l BAP + 1,0 mg/l NAA; môi trường tái sinh chồi từ lá mầm hiệu quả nhất là MS + 0,5-2,0 mg/l BAP + 0,1 mg/l IAA. Nồng độ kanamycin 75-100 mg/l được xác định phù hợp cho sàng lọc trong chuyển gen hoặc chỉnh sửa gen ở đậu xanh.